Thứ Sáu, ngày 21 tháng 11 năm 2014

Báo cáo thu-chi

Tồn quĩ kỳ trước: 4.946.500 + 1 lượng vàng SJC + [500USD + ngân hàng (13.000.000)] (Đã post Báo cáo thu-chi 20/7/2014)


*01/8/2014 Toàn Thắng gởi tặng €200 (LTCầu chuyển)

06/8/2014 đám tang ông cố cha Định (1.000.000 phúng điếu + 500.000 hoa) = 1.500.000

*29/8/2014 Phan Xuân Hoà gởi tặng $100 (Dũng Ruồi chuyển)

27/9/2014 quà mừng cha Bề Trên PX Tấn (Phụng phụ trách) = 1.000.000

30/9/2014 phúng điếu mẹ Ex Chương (Dũng Ruồi phụ trách) = 1.000.000

*31/10/2014 đổi tiền €200 x 26.750 + $100 x 21.320 = +7.482.000

15/11/2014 đám tang bà cố cha Định (1.000.000 phúng điếu + 500.000 hoa) = 1.500.000

21/11/2014 lãi ngân hàng (21/5/2014 đến 21/11/2014): +513.500

21/11/2014 gởi ngân hàng (21/11/2014 đến 21/5/2015): 5.000.000

 

Tồn quĩ: 2.942.000 + 1 lượng vàng SJC + [500USD + ngân hàng (18.000.000)]

 

Cám ơn các anh em đã đóng góp cho QUĨ LỚP.

Cuoi tuan

                                  CHÚA GIÊ-SU VUA HOÀN VŨ

Cha Gioan Tauler là một nhà thần bí luôn cầu xin để gặp được cao nhân chỉ cho biết thiên đàng ở đâu. Một ngày kia, có tiếng lương tâm giục ngài ra trước cửa nhà thờ để gặp vị quân sư đó…

Nhìn trước nhìn sau, cha chẳng thấy ai, ngoại trừ một người ăn mày, quần áo rách rưới, mặt mũi bẩn thỉu, hôi thối.

Cha đến gần chào người hành khất:" Chào ông, chúc ông may mắn"

Người ăn mày thản nhiên trả lời:" Chào cha, tôi có bị rủi ro bao giờ đâu!"

-Vậy thì xin Thiên Chúa ban cho ông mọi điều sung sướng.

-Ồ, thưa cha đời tôi chưa bao giờ thấy khổ cả!

Rất ngạc nhiên về cách nói năng của người này, cha Tauler hỏi tiếp:" Nếu Thiên Chúa bắt ông xuống hỏa ngục, ông có buồn khổ không?"

Người hành khất trả lời không cần suy nghĩ:' Nếu Chúa làm như vậy thì tôi sẽ ôm ghì lấy Chúa và đưa Chúa xuống hỏa ngục luôn. Tôi thà ở hỏa ngục với Chúa còn hơn ở Thiên Đàng mà không có Ngài".

Vị linh mục càng ngạc nhiên hơn nữa, hỏi tiếp:' Này ông, ông có thể cho tôi biết ông từ đâu tới đây?"

-Thưa cha, tôi từ Thiên Chúa mà đến.

-Nhưng ông tìm thấy Thiên Chúa ở đâu?

-Ở ngay khúc quẹo, chỗ mà tôi từ bỏ mọi của cải vật chất trên đời này.

Tới đây, không thể chờ đợi hơn được nữa, cha Tauler hỏi nhanh:"Thế thì, ông là ai?"

Người ăn mày nói một cách trịnh trọng: "Tôi là Vua"

Cha Tauler quì xuống trước mặt người ăn mày:" Tâu Đức Vua, Ngài có thể cho con biết vương quốc ngài ở đâu không?

Người ăn mày đáp:" Vương quốc của Ta ở ngay trong tâm hồn Ta".  

Thứ Năm, ngày 20 tháng 11 năm 2014

Chia buồn và cám ơn


Kính Cha Định,
Đã lâu không viết bài, nhưng cũng biết hết mọi tin tức của lớp qua DR và blog68.
Cả gia đình vẫn âm thầm cầu nguyện cho Bà Cố Maria
Xin chia sẻ nỗi mất mát lớn lao của Cha.
Trong niềm tin vào Đức Kito Phục Sinh, xin Chúa đưa linh hồn Maria sớm về hưởng nhan thánh
Chúa.

Thăm quí sư huynh,

Nhận được nhiều email hỏi thăm chia sẻ của các bạn, và đặc biệt phai đoàn Khoan Loan và DũngThoa đã bỏ thời giờ để đến vùng Riverside sa mạc bụi mờ ( Bác PHT cũng có thể ghé thăm nơi này để quay súng, có nhiều địa danh nghe có vẻ cowboy viễn Tây lắm, Rancho Cucamonga, Fontana....) Thú thật, mãi hôm nay mới tỉnh hồn để viết. Cảm ơn tất cả các bạn, tui cũng đỡ nhiều vả khỏe lại.

Kinh Thánh có nói : " Có một thời ...như vầy, thì sẽ có một thời như vầy, như vầy...."
Tui thì chẳng cần biết thời nào hết ! Thời vui hay buồn, đau khổ hay hạnh phúc, khoẻ mạnh hay ốm đau...thời nào có anh em bên cạnh vui vẻ, chia sẻ vui buồn là tui vui rồi.
Xin cám ơn các bạn.

Nhắn riêng với Thầy Thành (Texas)
Hello ! Thầy Thành khỏe không ? Dạo này có nuôi được con cá koi nào chưa? Hay là ra gốc chuối hết rồi? Thú thật vởi Thầy, cảc bí kíp võ công về e cigar Thầy truyền, tui đã áp dụng triệt 
để, không sai một dấu phẩy, 24mg là chính xác 24mg! Thậm chí lúc ban đầu không hiểu hết, tui tính rước Thầy về lại Cali để truyền thụ cho rõ. 
Mọi việc đều OK cho đến khi " cơn đau lên đầy", vô cấp cứu, chẳng thiết một sự gì, vứt hết, E-cigar, Marlboro....Giờ đây, tui không còn dính dáng gì tới chúng nó nữa. Cầu xin cho được bye bye luôn!
Dẫu sao cũng cám ơn Thầy đã truyền lại E-cigar chân kinh thật huyền diệu, võ lâm cái thế !!
Hy vọng Thầy sẽ làm một cú Tây Du 2 để anh em Little Sàigon có dịp đàm đạo !

Một lần nữa, xin cám ơn các bạn đã cầu nguyện và nâng đỡ tui thời gian qua.

Ân758






Chủ Nhật, ngày 16 tháng 11 năm 2014

RE: RIP

Phúc và gia đình xin gởi đến bạn lời chia buồn sâu sắc vì nỗi mất mát lớn lao này. Cầu Chúa đó nhận Bà vào nước Người.

 

Ex 798

 

From: Du Sinh [mailto:dusinh@gmail.com]
Sent: Friday, November 14, 2014 7:33 AM
To: Ex 757; Ex 758; Ex 759; Ex 760; Ex 761b; Ex 762; Ex 763; Ex 764; EX 767; Ex 768; Ex 773; Ex 775; Ex 777; Ex 778; Ex 779; Ex 780; Ex 781; Ex 784; Ex 785; Ex 786; EX 788; Ex 789; Ex 790; Ex 794; Ex 798; Ex 799; Ex 800; Ex 802; Ex 803; Ex 804; Ex 804; Ex 806a; Ex 812; Ex 813; Ex 815; Ex danh tuong 770; EXa 792; exluro 68; Exluro1968; EXo 765; Kim Loan
Subject: RIP

 

Thưa anh em

Bà Cố cha Định( Ex 776) mới được Chúa gọi về chiều hôm qua 18h ngày thứ năm 13/11/2014

Thánh lễ an táng sẽ cử hành ngày thứ hai lúc 8h

Xin đại gia đình exLuro68 dâng lời cầu nguyện cho bà cố Maria được hưởng Nhan Thánh Chúa

Mọi chi tiết sẽ thông báo sau

Re: RIP

Kính cha Định,
Mình mới đi họp tại Thailand về, đọc email và biết tin bà cố qua đời.
Xin chia buồn với cha và toàn thể tang quyến.
Cùng với anh em Exluro 68, xin dâng lời cầu nguyện cho bà cố.
Xin Chúa sớm đưa linh hồn bà cố Maria về hưởng thánh nhan Chúa.

Giuse Đỗ Mạnh Hùng

2014-11-14 20:09 GMT+07:00 Du Sinh <dusinh@gmail.com>:
Thưa anh em
Bà Cố Maria đã được tẩm liệm chiều nay lúc 15h
Lớp quyết định sẽ tổ chức đi viếng vào chiều ngày mai.
14h ngày mai thứ bảy 15/11/2014 sẽ khởi hành từ nhà Lớp trưởng. Trước mắt là có 1 xe bẩy chỗ.
Anh em nào thu xếp được xin tham dự.
Ex 772


Thứ Bảy, ngày 15 tháng 11 năm 2014

Thành Kính Phân Ưu

Xin chân thành chia sẻ nỗi buồn thương Mẹ của cha Định, và gia quyến.
Cầu cho linh hồn Cố Maria sớm được hưởng nhan Chúa Hằng Sống và Hay Thương Xót.

Gia đình ExLiên

RIP

Thưa anh em

Chiều nay bẩy anh em đại diện lớp Ex Luro 68 đã đến nhà riêng của cha Định [ ở xứ Thái Hòa gần ngã ba Trị An] để kính viếng bà cố Maria lần chót.

Sau khi chờ đợi , cũng đến lượt anh em vào chia buồn, cầu kinh và thắp nhang cho bà cố .

Vì khách viếng khá đông nên anh em tính rút lui trong trật tự nhưng ra đến xe  Ex 776 còn cho gọi vào bàn nước để cám ơn 1 lần nữa và chia sẻ tâm tình… Ông bà cố ra đi cách nhau khoảng hơn trăm ngày…Tuy nỗi đau của cha xứ Xuân Trà nhân lên gấp đôi nhưng tình nghĩa anh em ex Luro 68 và lòng Chúa xót thương cũng gia tăng gấp bội như vậy[ hết trích]

Nhìn hình thì anh em biết người chụp là Ex đầu vần nữa là 7 người tất cả

Trên đường về có ghé quán lẫu tôm Năm Ri để ăn tối do Ex 759 và Ex 763 chiêu đãi

Có 1 vài tin mới liên quan tới US mấy ngày sắp tới

Ex 786 sẽ du lịch US để xả stress và đi một ngày đàng học 1 sàng khôn....

Đầu tháng 12 này exo ( con gái út) của Ex Khải 787 sẽ lên đường du học US

Ex danh tướng đang sắp xếp và chuẩn bị để họp mặt gia đình Ex luro68 trước Noel 2014

Chúc anh em ngủ ngon. Xin nhớ cầu cho linh hồn Maria thêm 1 kinh

Ex 772

PS: vòng hoa phúng viếng hơi viết sai chính tả ( chữ Ex Lvro) ngòai ý muốn

PHÂN ƯU

PHÂN ƯU

Được tin 
  Bà Cố MARIA

thân mẫu
Cha Giuse Nguyễn Ý Định 
Chánh xứ Xuân Trà, Giáo hạt Hố Nai, 
Giáo phận Xuân Lộc
đã an nghỉ trong Chúa.



Xin được chia sẻ nỗi niềm thương nhớ Bà Cố MARIA với Cha và quý quyến. 


Nguyện xin Thiên Chúa sớm đưa Linh Hồn Bà Cố MARIA vào hưởng Thánh Nhan Chúa.

Gia đình Tuấn 813

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 11 năm 2014

cuoi tuan

THẮC MẮC GIÁO LÝ

Hỏi:Thưa chị, các thánh tử đạo VN ngày xưa không có nhiều nhặn gì để mất... cho nên các ngài sẵn sàng theo Chúa đến cùng . Hiện tại chúng em có nhiều quyến luyến quá khó mà theo Chúa cho đến cùng.

 

Trước hết xin cám ơn em đã mạnh dạn nói lên suy nghĩ của mình, điều này giúp chúng ta cùng  suy nghĩ theo nhưng chiều hướng tích cực khác nhau

Để trả lời câu hỏi của em  chị thấy cần lưu ý những điểm sau đây:

·        Phân biệt giữa chất lượng và số lượng. Ngày nay chúng ta sống trong thế giới duy vật và vì thế mau chóng bỏ qua những gì không phải cụ thể trước mắt. Cần nhắc lại ở đây lời nhận xét của Chúa Giêsu về hai xu của bà góa[ Mc 12,42-44] mà chúng ta mới nghe đọc tuần trước. Của dâng không thay thế được tấm lòng. Tin có nghĩa là chấp nhận để lúc nào Chúa cũng là số 1 trong cuộc đời mình, vượt trên tất cả của cải, danh vọng, bạn hữu và cha mẹ ...

·        Tuổi các em còn trẻ cuộc sống như nở hoa trước mắt  Đúng là giáo hội VN có những vị cao niên tử đạo nhưng cũng không ít vị còn rất trẻ( Thí dụ Thánh Giuse Túc làm chứng cho đạo lúc 12 tuổi) . Các thánh như Phaolo Hạnh( Tân Triều), Phaolo Lê Văn Lộc, Phêrô Đoàn công Quý, Philipphe Phan Văn Minh. Mattheu Gẫm đều tử đạo khi tuổi đời căng tràn sức sống

·        Các em đừng tưởng các thánh tử đạo ngày xưa có quá ít nên rất dễ từ bỏ . Các em hãy đặt nình vào bối cảnh thế kỷ thứ 19 tại đất nước An Nam chúng ta.        

Chúng ta hãy xét những vị tử đạo thuộc địa phận Sài Gòn lúc đó.                  

Ông Trùm Lựu chắc phải có của ăn của để mới có sức giúp việc chung như xây tu viện hay rộng tay làm phúc bố thí cho kẻ nghèo như lời Thánh Kinh "Tuỳ con có bao nhiêu, hãy cho  bấy nhiêu; có nhiều thì cho nhiều, có ít thì đừng ngại cho ít." [Tb4,8]                          

Tôi cũng muốn trưng dẫn thêm về thánh Emmanuel Lê văn Phụng, ông ta là 1 điền chủ ở An Giang, ông lo xây dựng nhà thờ, ông còn dặn con cái đừng làm ma chay trọng thể hay tìm cách trả thù những kẻ vì tham tiền đã tố giác ông chứa chấp đạo trưởng( linh mục Gia tô)>> chứng tỏ là các thánh tử đạo còn có nhiều điều để mà mất hơn chúng ta bây giờ ấy chứ!!!

Matthêu Gẫm là thương gia giầu có. Vào thời đó mà có tầu đi Hạ Châu [Tân gia Ba; Singapore] buôn bán không phải là chuyện vừa. Cả khu phố sang trọng bây giờ là khu Zen Plaza lúc đó đều là thuộc sở hữu của gia đình Thánh Gẫm, điều này các bạn có thể kiểm chứng rõ ràng chứ tôi không nói ngoa.

Đầu thế kỷ 20 một người có bằng Thành Chung ( tương đương với tốt nghiệp trung học cơ sở ngày nay) đã đi làm thầy thông , thầy phán.... kiếm biết bao nhiêu tiền của và danh lợi...Người giầu nhất Nam kỳ là huyện Sỹ , 1 người tu xuất ( Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường ,Tứ Hỏa)

Tôi phải nói thêm cho các em thánh Philipphê Minh còn hơn nhng người đó gấp bội. Ngài là đồng tác giả soạn tự điển với  đức cha Taberd ( tên việt là Từ) từ khi còn làm thầy, với sở học như vậy việc tìm kiếm danh lợi trần gian thật không khó gì.     

Cuối cùng tôi phải kể cho các em tích truyện vị tử đạo trẻ tuổi tên là Augustinô Nguyễn Văn Mới [1806-1839] người Thanh hóa [ lúc đó mới là người tân tòng]:  Thế kỷ 19, khi cơn cấm đạo nổi mạnh trên tỉnh Thanh hoá, một hôm,
người ta dẫn đến trước mặt quan án một thiếu niên 
trẻ tuổi – tên là MỚI  – Thấy mặt mũi khôi ngô tuấn tú, quan động lòng thương.
- MỚI - quan nói – con cứ đạp thánh giá đi, rồi ta sẽ ban thưởng một nén bạc.         
- Bẩm quan lớn, một nén bạc chưa là gì.
- Được, ta sẽ ban một nén vàng. Con hãy đạp Thánh giá đi.     
- Ồ, bẩm quan lớn, một nén vàng cũng vẫn còn ít quá.  
- Sao ? quan sửng sốt, quát : Thế còn chưa đủ ư ? Vậy mày muốn bao nhiêu ?           
- Bẩm, nếu quan lớn muốn tôi đạp Thánh giá, thì xin quan lớn hãy cho tôi  cái gì có thể mua được một linh hồn khác đã...      
Và người thiếu niên bình tĩnh bước vào pháp trường, vẻ anh dũng tươi cười. 
Chàng thanh niên này đã hiểu thấu đáo Lời Chúa: "Người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì" (Mt 16, 26). Và chàng đã chọn lựa điều có thực hơn cả sự thực.

 

Tuy nhiên nói đi rồi nói lại, dù các emkhông có gì nhiều về vật chất thì cũng hãy nhớ rằng "ai vui vẻ dâng hiến thì được Thiên Chúa yêu thương" [ 2 Cr 9,7]. Với tâm tình đó một nụ cười, một ánh mắt yêu thương , một vòng tay bè bạn, cương quyết trung thực .... tất cả đều có thể trở nên hành vi tử đạo hằng ngày của tất cả chúng ta.

RIP

Thưa anh em
Bà Cố Maria đã được tẩm liệm chiều nay lúc 15h
Lớp quyết định sẽ tổ chức đi viếng vào chiều ngày mai.
14h ngày mai thứ bảy 15/11/2014 sẽ khởi hành từ nhà Lớp trưởng. Trước mắt là có 1 xe bẩy chỗ.
Anh em nào thu xếp được xin tham dự.
Ex 772

RIP

Thưa anh em
Bà Cố cha Định( Ex 776) mới được Chúa gọi về chiều hôm qua 18h ngày thứ năm 13/11/2014
Thánh lễ an táng sẽ cử hành ngày thứ hai lúc 8h
Xin đại gia đình exLuro68 dâng lời cầu nguyện cho bà cố Maria được hưởng Nhan Thánh Chúa
Mọi chi tiết sẽ thông báo sau

Thứ Hai, ngày 10 tháng 11 năm 2014

Thông tin Ex niên trưởng: Xin Chúa nhận lời chúng con!

Chúng con cầu xin Chúa: Lấy vài kg mỡ của Ex Dũng, lấy một ít sắc hồng da thịt của Ex Khoan trao qua cho Ex niên trưởng.

 

Xin Chúa nhận lời chúng con!

 

Ex Fuc 798

Thông tin

Thăm chư huynh Exluro68,

Được tin Niên trưởng Exluro 68 Hải Ngoại Khổng Kim Ân sức khoẻ không khả quan, Dũng Phan và bà xã cùng Khoan & Kim Loan ghé thăm hôm nay. 

Bạn ta xanh xao và mệt mỏi sau khi vào cấp cứu tuần qua, tuy nhiên vẫn dâng lời cầu nguyện trước bữa cơm trưa và cố gắng chuyện trò rôm rả. 

Kim Ân cho biết là "đau lắm, Chúa chịu đóng đinh thì chắc cũng chỉ đau đến thế..." Đã phải chich thuốc giảm đau và theo tình trạng này thì phải chào tạm biệt với Nicotine. Rượu và cà phê ngài cũng chẳng thiết tha. Bác sĩ cho biết cũng phải mất đến 1 năm mới hồi phục phần nào.

Bạn hiền xin anh em hiệp lời cầu nguyện cho trong giai đoạn điều trị này. 

Nguyện Chúa chúc lành và xin Chúa ban cho Niên trưởng thân mến của chúng ta chóng bình phục, và cho chị Liên có sức khoẻ mà chăm lo cho "ngài Kim Ân yêu dấu."

Khoan 789 

TB. Xin gửi kèm vài hình chia sẻ với anh em.


On Tuesday, October 14, 2014 6:41 AM, Anawim LA <anawimla@gmail.com> wrote:


14-10-2014

Những quả nho... dữ dội


Nancy Nguyễn/ FB Nancy Nguyen 

Đất nước tôi, một rẻo đất tẻo teo khốn khó nép mình bên rìa Thái Bình Dương quanh năm giông bão, của cả trời đất lẫn nhân sinh, trong suốt gần một thế kỷ, chưa có một ngày đứng gió.

Mỗi một mười năm, là một cơn dâu bể đầy kinh ngạc của kiếp người, của dân tộc. Không cơn dâu bể nào giống cơn dâu bể nào, ngoài một điểm chung duy nhất: niềm đau.

Những người sinh ra vào khoảng năm 20 phải chứng kiến đất nước bị xâm lăng và đô hộ. Một đất nước không chùn bước trước vó ngựa Nguyên Mông, bỗng một ngày trở thành thuộc địa, đó, chẳng phải là một biến cố lớn?

Nhưng chỉ 10 năm sau đó, những người sinh ra thời 30, phải chứng kiến cảnh đau thương hơn nhiều lần: đất nước chia đôi, nồi da nấu thịt. Súng của ngoại bang chĩa vào da thịt người mình. "Xương chất đầy đồng, máu chảy thành sông". "Niềm đau" có là một từ quá nhẹ?

Mười năm sau, hơn hai triệu con người người sinh vào những năm 40 phải gồng gánh nhau, dắt díu nhau bỏ lại nhà cửa ruộng vường, bỏ lại phần mộ tổ tiên để chạy loạn. Dân tộc tôi chứng kiến một cuộc di cư lớn chưa từng có trong lịch sử. Và nếu không phải do bị cấm cản, cuộc thiên di ấy có lẽ sẽ còn vĩ đại hơn nhiều. Và như thế, dân tộc tôi đã bắt đầu rách bào, chia đôi, bắt đầu viết những trang sử sau đó bằng nước mắt và bằng máu.

Những người sinh khoảng năm 50, ngắn gọn là: một dân tộc, hai định mệnh! Tôi không còn chữ nghĩa nào hơn để diễn tả nỗi bất hạnh cùng cực ấy.

Những người sinh khoảng năm 60, chứng kiến sự sụp đổ của một thể chế, sự tái thống nhất một đất nước, và sự chia đôi vĩnh viễn của lòng người. 40 năm qua đi mà vết cứa vẫn rịn máu tươi. Vết thương lòng chưa thấy ngày se mặt.

Những người sinh khoảng năm 70 có cơ hội chứng kiến cuộc thiên di thứ 2 trong lịch sử. Hàng triệu triệu con người phải mạo hiểm tính mạng bản thân, gia đình, để tháo chạy khỏi quê hương. Đất nước tôi đó, những năm tháng lầm than, kêu trời không thấu, kêu đất chẳng nghe. Dân tộc tôi lạc lõng, bơ vơ như những con thuyền lênh đênh trên biển.

Và những người sinh vào những năm 80, là tôi đây, 10 năm sau "giải phóng", những-tháng-năm-cấm-vận.

Có lẽ ký ức tuổi ấu thơ là những ký ức hằn dấu nhất, ám ảnh nhất của một đời người. Tôi nhớ hoài mẹ tôi, bà đáng ra còn trẻ lắm, mà dáng đã còm cõi, bà bòn từng đồng, lo chạy bữa cho con. Có những ngày trời mưa, mẹ tôi ngồi co ro bên vệ đường, gánh hàng quạnh hiu. Bà chẳng lo mình sẽ nhiễm phong hàn, chỉ lo làm sao? cho đủ sống! Có đất nước nào khốn nạn như đất nước tôi? Có bà mẹ nào khốn nạn như mẹ tôi, người mẹ Việt Nam? Tôi lớn lên, mang theo trong tiềm thức vóc dáng mẹ tôi, còm cõi như đòn gánh, co ro như một dấu chấm hỏi. Một dấu chấm hỏi xiêu vẹo trong những ngày mưa.

Tuổi thơ tôi gắn với những ngày mưa Sài Gòn, xoong chảo nồi niêu, có gì ... hứng nấy bởi cái mái tôn nhà tôi ... "đưa ánh nắng vào nhà" (mẹ tôi bảo thế), đêm nằm có thể nhìn thấy trăng sao. Những khi trời trở bão, gió giật từng cơn, tôi sợ sấm sét chui qua lỗ đinh vào nhà.

Tôi nhớ đôi dép cọc cạch, bên trái con trai, bên phải con gái, mẹ tôi bảo dép "uyên ương". Chiếc bên trái là của anh Hai để lại, chiếc bên phải mới là của tôi. Và cả hai chiếc đều vá chằng vá đụp, bằng chỉ bố, mẹ để dành từ quân phục của ba. Quần áo mới chỉ được bận 3 ngày tết, và cũng là của anh hai tôi để lại. Mẹ luôn mua rộng ra mấy tuổi, anh Hai bận chật rồi đến phiên tôi. Quần áo của con trai đấy, nhưng chỉ cần mới, chỉ cần không ... vá đít là đủ hấp dẫn rồi!

Và quả nho, những quả nho ... dữ dội nhất của tuổi thơ tôi. Tết năm đó, chỉ duy nhất tết năm đó, mẹ tôi mua nho Mĩ về biếu nội. Những quả nho mẹ chắt chiu từ gió sương của cả năm trời, gom góp lại để biếu mẹ chồng dịp tết đến. Những quả nho mập ú, căng tròn, hệt như trong phim Mĩ, giống y chang mấy chùm nho ... giả, loại những quán sinh tố trong xóm hay treo làm cảnh. Trời ơi! Dòn! Mọng! Ngọt! Mẹ đã dặn đi dặn lại không được ăn, mẹ còn cất tuốt lên nóc tủ. Vậy mà mấy trái nho như có ma lực, cái đứa tôi như bị thôi miên! Tôi lén trộm một trái. Trời ơi! Ngon! Rồi 1 trái nữa, rồi trái nữa! Từng trái, từng trái một, như một kẻ đã hoàng toàn mông muội, không còn có thể cưỡng lại được sự quyến rũ phát ra từ mấy trái nho. Mẹ sẽ đánh nát tay tội ăn vụng, tôi nghĩ, tay ... vẫn tiếp tục công cuộc ... mưu cầu hạnh phúc. Cảm giác tôi lúc đó vừa hoảng loạn, vừa lo sợ, vừa ... sung sướng, vừa sung sướng, vừa hoảng loạn sợ hãi. Tột cùng của sự hoảng loạn sợ hãi là khi chùm nho của mẹ chỉ con trơ lại cọng. Khốn nạn thân tôi! Rồi tôi sẽ phải sống tiếp phần ... ngày còn lại ra sao đây? Vậy mà mẹ không đánh tôi. Bà chỉ ôm tôi vào lòng ... và khóc, khóc gào lên, khóc trào ra. Khóc như một đứa trẻ. Mẹ tôi đó. Ôm con vào lòng, gào khóc lên như trút hết hơi sinh vào từng tiếng nấc.

Năm tháng qua đi, cuộc đời mang lại cho tôi thừa mứa. Giờ tôi muốn ăn gì thì ăn, muốn đi đâu thì đi, muốn mua gì thì mua. Tôi ngán đủ thứ, chả muốn ăn gì, chỉ còn ăn được mỗi nho. Bởi với nho, tôi không ăn bằng trực giác, mà thưởng thức bằng mùi vị của ký ức. Và vì với nho, tôi mua được một vé đi tuổi thơ. Hai mươi mấy năm trôi qua, ký ức vẫn chưa ráo mực. Mỗi lần ăn nho, tôi thấy mình bé lại, và được một bàn tay vô hình kéo tuột về thủa ấy, những-năm-tháng-cấm-vận. 

Tôi chỉ là một cá nhân, một cá thể, trong một tập thể những con người thế thệ 8x. Và chỉ là 1 thế hệ, trong nhiều thế hệ con người. Nhưng nói như một nhà văn Nga: "Cây đời có hàng triệu chiếc lá, và nói về một chiếc lá, là cũng đang nói về hàng triệu chiếc lá khác".

Cứ mỗi mươi năm, con Tạo quái ác xoay vần, là dân tộc tôi lại được gán cho một định mệnh mới. Tôi đã nghe rất nhiều người bảo tôi "thời em sướng rồi, thời của anh khổ lắm", còn tôi, tôi chỉ thấy thời nào cũng khổ. Và chẳng cái khổ nào giống cái khổ nào. Cái nào cũng "đặc thù" và cái nào cũng "nhất"! 

Người mình khổ quá, đất nước mình đau thương quá. Phải không mẹ? Phải không anh?
 


Chủ Nhật, ngày 09 tháng 11 năm 2014

cuoi tuan

Vương Cung Thánh Đường Laterano

a. Lịch sử

Vào cuối thế kỷ thứ III, Đế quốc Roma theo chế độ "Tứ đầu chế" tức là có 4 vị tiểu hoàng đế trị vì: tại vùng Nocomedia có Hoàng đế Diocleziano, vùng Sirmium có Hoàng đến Galerio, vùng Milano có Hoàng đế Massimio và vùng Trevi có Hoàng đế Costanzo Chlore. Ngày 28 tháng 10 năm 312, tướng La Mã Constantino (306- 337) con của hoàng đế Costanzo Chlore chiến thắng quân của hoàng đế Massenzio (306- 312) là con của Hoàng đế Massimio ở cầu Milvio, và khải hoàn tiến vào Roma. Ngày nay chúng ta còn thấy Khải hoàn môn Constantinô ở cạnh đấu trường Côlôseum ghi nhớ việc ông khải hoàn tiến vào thành Roma. Sau đó ông trở thành hoàng đế Roma ở đế quốc Tây Phương. Nhờ vào dấu hiệu Thánh giá trên bầu trời với hàng chữ latinh "cứ dấu hiệu này ngươi sẽ chiến thắng". Tướng Constantinô đã cho đúc hình Thánh giá trên các khiên thuẫu của binh sĩ ông và quả nhiên ông đã chiến thắng đạo quân của hoàng đế Massenzio.                                                             

Năm 313, ông ra chiếu chỉ tại Milano, ngưng bách hại các người Kitô hữu, cho tự do hành đạo, và ra lệnh trả lại tất cả tài sản đã tịch thu của Giáo Hội trong thời kỳ bách hại của các hoàng đế tiền nhiệm. Sau cùng, hoàng đế trở lại đạo Công giáo và ấn định Chúa nhật là ngày nghỉ hằng tuần.      

 Vào khoảng năm 313-318, Hoàng đế Constantinô đã ra lệnh xây Thờ Chúa Cứu Thế ở khu vực Laterano. Đây là khu vực của gia tộc Laterano giàu có đã bị hoàng đế La mã là Nero (54- 68) tịch thu tài sản, sau khi ông ta đã giết người cuối cùng của gia tộc này là Plauzio Laterano bằng cách gán cho ông này tội mưu phản.                           

Hoàng đế Constantino ra lệnh san bằng doanh trại rộng lớn của đoàn quân cận vệ hoàng đế Massenzio để lấy đất xây Đền thờ Chúa Cứu Thế. Qua quyết định này, ông làm một công đôi việc, một đàng muốn phá hủy dấu tích hùng vĩ của đối phương, đàng khác muốn tái khẳng định ý định nâng đỡ Kitô giáo.                                                           

Năm 334, Đền thờ được Đức Giáo Hoàng Silvestro I thánh hiến. Theo tương truyền có ảnh Chứa Cứu Thế "achiropita", nghĩa là không do tay người phàm vẽ ra, xuất hiện cách lạ lùng trong lễ thánh hiến Đền thờ. Sau này, ảnh này được vẽ lại trên mặt tiền và được coi là phép lạ suốt thời Trung Cổ.                                                                               

Đền thờ này là Thánh đường đầu tiên của Giám Mục Rôma, và cũng là Nhà thờ Chính tòa Giáo phận Rôma. Thánh đường này được gọi là "Mater et Caput", là Mẹ và là Đầu của tất cả Nhà thờ khác trên thế giới.

Đền thờ này cũng tượng trưng cho sự trỗi dậy của Kitô giáo. Thật vậy, sau chiếu chỉ tha đạo của hoàng đế Constantino, một cộng đoàn Kitô hữu đã xuất đầu lộ diện, công khai cử hành phụng vụ và biểu lộ đời sống đức tin. Đền thờ này tượng trưng cho chính Giáo hội                                                        

Vì tầm quan trọng này, nên lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Gioan Laterano hằng năm được cử hành với lễ kính bậc hai vào ngày 9 tháng 11, quan trọng hơn cả lễ Cung Hiến Đền Thờ Thánh Phêrô và Phaolô, cử hành với bậc lễ nhớ bậc ba vào ngày 18 tháng 11.                                                             

Đền thờ này lúc đầu được dâng kính Chúa Cứu Thế, sau đó dưới thời Đức Giáo Hoàng Gregorio 1 (590- 601) thì lại được dâng kính cả hai Thánh Gioan Tẩy Giả và Gioan Tông Đồ. Dân chúng ở Roma có lòng kính mến đặc biệt đối với thánh Gioan Tông Đồ, vì theo tương truyền (có nhiều sử liệu chứng minh, trong đó có cả Tertulliano), Thánh nhân đã thoát khỏi cuộc hành hình cách lạ lùng tại thành Roma: tại đây ngài bị dìm vào một chảo dầu đun sôi (cách cửa Latina vài mét,  ngày nay có Đền thờ nhỏ kính thánh Gioan ở trong chảo dầu – mang tên San Giovanni in Oleo). Đức Giáo Hoàng Ilaro (461- 468) đã thoát khỏi cuộc bạo động của những người rối đạo, sau đó để ghi ơn, ngài đã cho xây một Nhà nguyện cạnh giếng rửa tội hiện nay ở Laterano, và quyết định dâng kính Đền thờ này cho thánh nhân. Cho nên Đền thờ hiện nay mang tên Gioan Latêranô do Đức Giáo Hoàng Lucio đặt tên vào năm 1144.                                 Đền thờ chịu nhiều phá hủy qua dòng thời gian: bị quân man di Genserico cướp bóc vào năm 455: bị động đất vào năm 896. Tổng cộng có hơn 20 vị Giáo Hoàng xây cất, tái thiết, tu bổ và trang hoàng Đền thờ. Đặc biệt vào giữa thế kỷ 17, Đức Giáo Hoàng Innocentê 10 (1644- 1655) đã ủy thác cho kiến trúc sư Francesco Borromini điều chỉnh sửa lại hoàn toàn ngôi Đền thờ. Năm 1735 mặt tiền Đền thờ như ta thấy hiện nay với cổng vào do kiến trúc sư Alexandro Galilei thiết kế. Năm 1885 Đức Lêô 13 cho sửa lại hậu cung Đền thờ.                                

Như thế, trong 10 thế kỷ, từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XIV, Đền thờ này cũng như tòa nhà bên cạnh đây là trung tâm của Giáo hội Roma, là trụ sở và là biểu tượng của Đức Giáo Hoàng. Cho nên các nhà nguyện, đan viện, nhà trọ và khách sạn được thiết lập chung quanh Trung Tâm này.             

Chính tại Đền thờ này, Đức Giáo Hoàng Innocentê III (1198- 1216) đã bãi chức hoàng đế Otto, và phê chuẩn luật dòng của Thánh Phanxico Assisi. Tại đây đã khởi xướng nhiều cuộc xuất quân của Thập tự chinh để tái chiếm Thánh địa khỏi tay người Hồi giáo. Năm 1300, Năm Thánh đầu tiên của Giáo hội được củ hành tại đây.

Vào năm 1962, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII muốn đưa Tòa Giám Quản Roma đến Laterano và đặt trung tân hành chánh của Giáo phận Roma trong Tòa giám quản này. Sau đó, Đức Phaolô VI đã cho xây tại Vatican các khu bảo tàng viện mới để lưu giữ các kỷ vật trước kia để ở Laterano như Bảo tàng viện truyền giáo và nhân chủng học.

b.Kiến trúc

Mặt tiền Đền thờ có từ thế kỷ XVIII trông rất cân đối, và được coi là hùng vĩ uy nga nhất trong số các mặt tiền Đền thờ ở Roma. Kiến trúc sư Alessandro Galilei, người Florence đã thiết kế mặt tiền này vào năm 1735 theo lời yêu cầu của Đức Giáo Hoàng Clemente XII. Tất cả đều bằng cẩm thạch, và rất phù hợp với quảng trường phía trước. Bên trên nóc tiền đường ở giữa là tượng Chúa Cứu Thế, hai bên là tượng Thánh Gioan Tẩy Giả cầm Thánh giá, và Gioan Tông Đồ cầm chén lễ. Hai bên có 12 vị thánh Tiến sĩ Giáo hội La tinh và Đông phương, mỗi tượng cao 7 mét, tượng trưng sự hiệp nhất giáo lý của Hội Thánh Kitô. Tổng cộng là 15 tượng. Bốn Thánh tiến sĩ Giáo hội Đông phương là: Gregorio Nazianzeno, Basillio, Gioan Kim Khẩu, và Anatasio. Bốn thánh tiến sĩ Giáo hội Tây phương là Ambroxio, Augustino, Giêronimo và Hilario.    

Mặt tiền có ghi hàng chữ: "Sacrosancta Lateranensis ecclesia omnium uthis et othis ecclesiarum mater et caput". Mẹ và Đầu của tất cả nhà thờ ở Roma và trên thế giới.                           

Ở giữa mặt tiền Đền thờ, có ban công chính, các Giáo Hoàng thường ban phép lành cho dân chúng trong dịp Năm Thánh. Cũng tại đây Đức Hồng Y Gaspani, nhân danh Đức Piô XI ký hiệp định Laterano với Italia, thành lập Nhà nước Vatican năm 1929, tái lập sự độc lập pháp lý và lãnh thổ của Tòa Thánh. Từ lúc đó, Đức Giáo Hoàng mới long trọng nhận Đền thờ này là Nhà thờ Chính tòa của mình, với tư cách là Giám Mục Roma.                                                                          

Trong hành lang ở tiền đường Đền thờ, ở phía tay trái, có tượng Hoàng đế Constantino  Các hình nổi trên xà cửa Đền thờ diễn tả những biến cố trong cuộc đời thánh Gioan Tẩy Giả.     Từ thời đầu tiên cho đến ngày nay chỉ còn lại sơ đồ 5 gian và Đền thờ dài 130 mét, gian chính rộng 16 mét, và dài 87 mét.                                       

Trong gian chính của Đền thờ, có 30 cột bằng cẩm thạch màu vàng, ở hai bên có tượng 12 thánh Tông Đồ (cao khoảng 6 mét) do Đức Clemente IX (1700- 1721) cho tạc. Bên trên có hình nổi kể lại sự tích Cựu ước và Tân ước.                      

Trần Đền Thờ bằng gỗ thật huy hoàng do kiến trúc sư Pirri Ligorio khởi sự theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Piô IV (1559- 1565), ngài thuộc gia tộc Medici nên có huy hiệu của ngài. Công trình này được hoàn thành dưới thời Đức Giáo Hoàng Piô V (1566- 1572). Gần tường lối vào là huy hiệu của Đức Piô VI (1775- 1799) là vị đã cho trùng tu trần đền thờ này.                                                                       

Tranh khảm đá ở hậu cung Đền thờ là của 2 nghệ nhân Jacopo Torriti và Jacopo da Camerino, thực hiện từ 1288 đến 1294 với chủ đề tuyên dương Thánh Giá. Trên mây là Chúa Cứu Thế, có hình các thiên thần xung quanh. Giữa là Thánh giá có hình chim bồ câu đậu trên. Thánh giá ở trên ngọn đồi bao trùm Jêrusalem thiên quốc từ đó có 4 dòng sông chảy xuống là 4 Phúc Âm, giải khát cho cho các con nai và chiên tượng trưng cho dân Chúa. Bên trái có hình Đức Mẹ và Đức Giáo Hoàng Nicola IV đang quỳ, 2 thánh Phêrô và Phaolô. Bên phải có Thánh Gioan và Anrê. Có hai hình nhỏ là Thánh Phanxico Assisi ở bên trái và Thánh Antôn Padova ở bên phải được vẽ thêm vào theo lệnh của Đức Giáo Hoàng Nicola IV, vì ngài thuộc dòng Phanxicô.                                                                      

Toàn bộ bức tranh khảm đá này được tháo gỡ ra trong cuộc trùng tu hồi năm 1896, rồi được ghép trở lại, nhưng vì thế bị mất đi phần lớn giá trị nguyên bản.                                                                        

Ở cánh ngang Đền thờ, gần cửa ra vào bên phải, có đàn phong cầm vĩ đại với 2 ngàn ống, đây là một trong những đàn phong cầm quan trọng nhất tại Italia, được 2 cột lớn bằng cẩm thạch màu vàng, trang trí bằng gỗ mạ vàng, chống đỡ. Do kiến trúc sư Luca Blasi thiết kế năm 1599.                           

Có nhiều phần mộ trong Đền thờ này, đặc biệt là của các Hồng Y Rasponi (1670), Casati (1287), Antoni del Portogallo… Các vị Giáo Hoàng Sergio IV (1012), Alexandro III.                           

Bàn thờ của Đức Giáo Hoàng ở điểm chính giữa Đền thờ, được thiết kế lại vào năm 1851. Trước đây, chỉ có Đức Giáo Hoàng được làm lễ tại bàn thờ này mà thôi. Trên bàn thờ có lọng tán kiểu Gôtích, được trang trí bằng những bức bích họa có từ thế kỷ 13. Bàn thờ hiện nay bao gồm bàn thờ cũ bằng gỗ do 33 vị Giáo Hoàng đầu tiên sử dụng, từ thánh Phêro tới thánh Silvestro (thế kỷ thứ I đến IV).      

Phần dưới bàn thờ được thiết kế vào thế kỷ thứ IX, ở bên dưới có mộ Đức Giáo Hoàng Martino V Colouna (1484- 1492), là vị Giáo Hoàng đầu tiên ở đây sau cuộc ly khai của anh em chính thống Đông và Tây phương. Ngài cũng là vị đã cho thực hiện lát nền đền Nhà thờ bằng nhiều đá cẩm thạch màu sắc khác nhau.                                                

 Theo tương truyền phần trên của Nhà tạm do Đức Urbano V thiết lập năm 1367, với khung xám bằng sắt, có giữ đầu của Thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ. Trong thời quân Pháp xâm lăng vào năm 1799, hai Thánh tích này bị cướp mất và phá hủy. Ngày nay, người ta có thể thấy vật sao lại do nghệ nhân Valasier làm. Trong Mặt nhật đựng Thánh tích bên trên bàn thờ để Mình Thánh Chúa (làm năm 1600) có giữ một mảnh gỗ bàn bằng gỗ rất cổ kính và đơn sơ, theo tương truyền ở Roma, đây là bàn thờ, trên đó Thánh Phêrô đã cử hành thánh lễ. Thánh tích này chỉ được trưng bày ngày lễ Phục Sinh.                                                            

 Ngày nay, Đền thờ này do một vị Hồng y thay mặt Đức Giáo Hoàng làm Giám quản.

c. Giếng Rửa tội

Ở khu vực bên phải Đền thờ, sau Tòa giám quản có giếng rửa tội. Giếng này có từ thời hoàng đế Constantino (theo lưu truyền vị hoàng đế này đã được Đức Giáo Hoàng Silvestro rửa tội tại đây) và từ năm 432 dưới thời Đức Giáo Hoàng Sixto III (432- 440), giếng rửa tội có hình bát giác, sau đó trở thành kiểu mẫu cho các giếng rửa tội trong toàn thể thế giới Kitô giáo. Giếng này được trùng tu vào năm 1637 dưới thời Đức Giáo Hoàng Urbano VIII.

d. Tháp Bút

Đây là tháp bút cao nhất và cổ kính nhất Roma, cao 47 mét tính cả bệ (không có bệ thì cao 32 mét). Tháp bút này bằng đá hoa cương màu đỏ của Ai cập cổ từ thế kỷ XIV trước Công nguyên, và được đưa từ Thèbes bên Ai Cập (tại đền thờ thần Ammoni) về Roma hồi thế kỷ thứ 4, theo lệnh hoàng đế Constanzo 2 trên một con tàu đặc biệt để chở tháp này về Roma. Tháp được đặt tại Circo Massimo dưới chân dinh thự Palatino. Vậy là tháp này có độ tuổi 3.500 tuổi.                                                   

Năm 1588 Đức Giáo Hoàng Sixto V đã tái thiết và cho chở từ Circo Massimo về Latêranô và dựng trước Đền thờ. Trước mặt bệ tháp có ghi hàng chữ: "Constantino, người chiến thắng nhờ sự chuyển cầu của Thánh Giá, đã được Thánh Silvestro rửa tội tại nơi này, ông đã truyền bá vinh quang của Thánh Giá".                                                

Tiện đây cũng xin ghi nhận Roma là thành phố cổ có nhiều tháp bút nhất thế giới, tổng cộng có chừng 13 tháp.

e. Khu vực cạnh Đền thờ

Gần Đền thờ có tường thành do Hoàng đế Aurelio xây vào thế kỷ thứ III và có cổng San Giovanni. Phía trước Đền thờ có đài kỷ niệm với tượng thánh Phanxico Assisi, nhắc lại sự tích vào năm 1210, thánh nhân cùng với các bạn đến Laterano để xin Đức Giáo Hoàng Innocentê III phê chuẩn luật dòng của mình.                                                                     

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Thứ Bảy, ngày 01 tháng 11 năm 2014

LINH MỤC NGƯỜI VIỆT GỐC MỸ

Có phải là người quen cũ?

Mời nghe Linh Mục người Việt gốc Mỹ trả lời cuộc phỏng vấn của Thanh Trúc

LINH MỤC NGƯỜI VIỆT GỐC MỸ
 
Khi được lệnh sang tham chiến tại Việt Nam năm 1966, một người lính trẻ Hoa Kỳ không bao giờ nghĩ mình có thể gắn bó với đất nước này đến nỗi xin ở lại để trở thành linh mục.
 
Trở thành bằng hữu
 
Sau ngày 30 tháng Tư, ông chỉ mong được chính quyền mới cho ở lại cùng giáo dân của mình. Tháng Mười năm 1975 ông bị đẩy lên máy bay qua Thái Lan mà không có một mảnh giấy tuỳ thân. Rồi cuộc đời đưa đẩy ông về làm linh mục tại tỉnh Udonthani miền Bắc Thái Lan từ ngày ấy đến giờ.
 
Cựu chiến binh John Thabor tức linh mục Dương Tấn Bằng, kể lại với Thanh Trúc câu chuyện từ người lính Mỹ đến người tu sĩ Công giáo Việt Nam: "Tên của cha bằng tiếng Mỹ là John Thabor. Năm 1966, cha đi lính ở Việt Nam, rồi có một ông cha đỡ đầu gọi là cha dưỡng phụ Nguyễn Lân Mẫn, bây giờ ngài đang làm giáo xứ đại chủng viện ở Huế của Xuân Bích, đổi tên John Thabor thành Dương Tấn Bằng. Họ Dương là người nước ngoài, Tấn là tiến tới, Bằng là bằng hữu. Dương tấn Bằng có ý nghĩa là một người nước ngoài đến để làm bạn."
 
Thanh Trúc:
Thưa cha, khi bắt đầu đi tu thì cha làm thế nào để ra khỏi quân đội?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Lúc đầu rất rắc rối vì chính phủ Việt Nam đòi phải có giấy phép của chính phủ Mỹ, một thẻ lưu trú, một hộ chiếu. Thế mà Toà Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn nói là nếu không có thẻ lưu trú của nước Việt họ sẽ không cấp hộ chiếu.
 
Bộ Nội Vụ của nước Việt Nam thì nói nếu không có hộ chiếu họ sẽ không cho thẻ lưu trú. Cho nên ban đầu coi như là không được. Nhưng mà các cha vận động bằng cách nào không hiểu mà đâu ra đấy cũng là ý Chúa. Cha được giải ngũ ra và bắt đầu vận áo dòng và học tiếng để sửa soạn vào Đại Chủng Viện ở Sài Gòn".
 
Thanh Trúc:
Cha học tiếng Việt như thế nào, có dễ học hay không?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Khó như quỷ! Lúc đầu cha không biết những cái dấu, tiếng Việt Nam là độc âm, mỗi âm một tiếng khác nhau. Lúc đầu thấy khó lắm mà sau một thời gian học với các chú tiểu chủng sinh ở chủng viện thánh Gioan 23 ở Đà Nẵng thì đã bắt đầu biết tiếng và nói được."
 
Thanh Trúc:
Từ một G.I trong quân đội Mỹ rồi trở thành một linh mục thì có cái khó khăn nào mà cha cần phải vượt qua?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Cái khó khăn là tại tâm, vì chính cha tự hào cha là người tốt, cha là người biết mọi sự vì là người Mỹ. Cái mặc cảm tự tôn cho rằng không ai có thể dạy cha. Ngay cả vấn đề sống và giữ đức tin, cha đã sống cuộc đời không phải là vị tha mà vị kỷ, sống đạo vì cha mẹ bắt đi lễ nhà thờ nhà thánh.
 
Mà khi sang Việt Nam thì thấy làm sao mà trong một nước có chiến tranh, trong sự đau khổ sự thiếu về vấn đề vật chất mà họ vẫn có đức tin mạnh như vậy. Điều đó làm cho cha bắt đầu nghĩ nhiều đến đời sống nội tâm của mình, nên khi bắt đầu tu cha có một sự phấn khởi, cảm thấy mình lĩnh hội và hiểu sâu xa về vấn đề đức tin hơn."
 
Thanh Trúc:
Đến năm nào thì cha thụ phong linh mục?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Học xong chương trình Đại Chủng Viện năm 1974. Đáng lẽ ra chịu chức linh mục ở tại Việt Nam mà cha chịu chức Sáu do Đức Cha Phạm Ngọc Chi ở Đà Nẵng truyền chức cho cha. Vì mười năm trời không về nhà một lần thăm cha mẹ nên cha đã xin phép Đức Cha cho về Mỹ chịu chức ở bên Mỹ. Đức Cha đã viết thư trao quyền cho giám mục ở bên Mỹ truyền chức cho cha với mục đích sẽ tu cho địa phận Đà Nẵng.
 
Cha chịu chức ở bên Mỹ khi về thăm quê quán xong rồi trở lại Việt Nam năm 1974."
 
Ký ức về 30 tháng 4
 
Thanh Trúc:
Trong biến cố 30 tháng Tư 1975 thì cha đang ở đâu?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Lúc đầu cha làm cha phó trên một giáo xứ cách thành phố Đà Nẵng vài chục cây số. Thế rồi Đà Nẵng thất thủ, các "bác" ở ngoài Bắc vào và đã bắt cha. Họ để cha ở đó một thời gian và mỗi ngày cha phải đi từ trên núi xuống công an để trình diện và đối thoại với họ.
 
Sau đó Đức Cha Chi chuyển cha từ Phú Thượng ở trên núi xuống thành phố mà ngài không xin phép nên chính phủ bắt lẽ là ngài không có quyền đổi nhân sự từ chỗ này đến chỗ khác.
 
Họ đã bắt cha giam một đêm và cho lính gác điệu cha từ Đà Nẵng vào Sài Gòn. Khi lên xe thì đi với một cán bộ nam và một cán bộ nữ. Trên xe đó họ đã nói với những người trong xe rằng người cán bộ nữ là vợ của cha. Cha nói cha độc thân, không phải vợ của cha đâu.
 
Khi tới Nha Trang phải nghỉ lại một đêm, họ muốn hai người ngủ trong phòng, cha nhất quyết không chịu. Thế rồi họ để cha trong phòng một mình. Cha lấy ghế chận vào cánh cửa vì ban đêm sợ họ đưa người đàn bà đó vào phòng của cha thì nguy."
 
Thanh Trúc:
Theo ý của cha thì tại sao họ làm như vậy?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Họ muốn cha bị giảm giá trị linh mục. Họ không nhận cái vấn đề cha là linh mục mà họ muốn người ta nghĩ rằng cha là một người thường để mà có cái toà án nhân dân kết tội là làm cựu quân nhân đã giết người Việt Nam. Phạm tội đối với dân tộc Việt Nam thì họ trục xuất."
 
Thanh Trúc:
Rồi sau đó họ đưa cha về Sài Gòn?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Sáng hôm sau lên xe đi về Sài Gòn. Lúc đầu họ đưa cha vào chỗ của các cha Dòng Tên, mà cha nói là cha đã từng học Đại Chủng Viện số 6 Cường Để. Người cán bộ nam nói là phải trả lại tiền vé xe, cha không có tiền, thế là cán bộ nam để cha tự do đi vào chủng viện số 6 Cường Để, vay tiền các cha mà hoàn lại cho anh ta.
 
Tới cái ngày họ muốn điệu cha ra phi cảng để ra khỏi Việt nam, họ đã đưa vào Bộ Nội Vụ, có một loại giấy tờ mà trong đó, câu thứ mười bảy hỏi tại sao ông muốn xuất cảnh. Cha nói cha đâu có muốn xuất cảnh, cha đã xin các ông đổi ý và cho cha ở nước Việt Nam luôn. Người cán bộ đưa giấy cho cha không biết làm sao, mới đưa cha lên lầu. Người ở trên lầu nói cha về để chờ xem xét chuyện này sau.
 
Thế nhưng về sau họ điệu cha ra phi cảng Tân Sơn Nhất, lên máy bay của hãng Pháp, đi qua phi trường Dong Muang ở Thái Lan tháng Mười năm 1975.
 
Những người hữu trách đuổi ra khỏi phi cảng để cha đi đâu thì đi tại vì cha không có giấy tờ nhập quốc, không có một giấy tờ từ Việt Nam đến đây như là di dân hay là người bị vấn đề về chính trị.
 
Thế rồi có một người đã lấy tiền ra cho cha đi tắc xi vào thành phố. Người đánh tắc xi hỏi đi đâu. Cha cứ làm dấu thánh giá và làm dấu hiệu đi đến một cái nhà thờ nào. Cuối cùng họ đưa tới một nhà dòng."
 
Linh mục Dương Tấn Bằng, bị trục xuất từ Việt Nam sang Thái Lan năm 1975 vì là người Mỹ và chỉ muốn được ở lại với giáo dân Việt Nam. Đến thủ đô Bangkok không giấy tờ, không tiền bạc, không biết tiếng Thái, ông bị đuổi ra khỏi phi cảng quốc tế Dong Muang. Thế rồi hoàn cảnh đưa đẩy ông gặp được Đức Cha người Hoa Kỳ đang ở Udonthani miền Bắc Thái Lan, nơi ông về trú ngụ và làm việc từ đó đến giờ.
 
LM Dương Tấn Bằng kể rằng
"lúc đầu thì học tiếng Thái ba bốn tháng, thế rồi Đức Cha người Hoa Kỳ qua nước Mỹ đi giảng để kiếm tiền giúp địa phận. Lúc đi ngài cho cha làm cha xứ của nhà thờ chính toà ở Udon đây. Một thời gian mấy tháng trời ở với Đức Cha thì mới đổi về một giáo xứ ở cách Udon độ hai trăm năm chục cây số."
 
Thanh Trúc:
Cha có bao giờ trở lại thăm Việt Nam ?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Có một lần, năm 1991, mẹ ở bên Mỹ qua đây thăm, cha muốn mời mẹ qua Việt Nam để coi cái chỗ cha đã từng học và những người bạn cùng lớp làm cha xứ ở đó. Đã nộp đơn qua một công ty du lịch, đã chờ đợi năm bảy ngày mà họ không trả lời, nghĩa là họ không cho phép".
 
Hướng về Việt Nam
 
Thanh Trúc:
Trong lòng cha thì cha nghĩ cha là người Mỹ, người Việt Nam hay là người Thái Lan?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Thật ra không phải cha mất gốc mất rễ nhưng vì đã muốn dâng hiến cả đời cho giáo dân Việt Nam cho nên cái lòng trí của cha bao giờ cũng hướng về đó.
 
Hiện tại ở nước Thái, ở Udon, có nhiều người từ Trung Bộ, người Nghệ An, Vinh, Hà Tĩnh, đến đây làm việc. Họ đến dự lễ ở nhà thờ mà cha đi làm lễ chiều này là thứ Bảy. Cứ Chúa Nhật cuối tháng là có cha người Việt Nam, cha Đức và cha Trực. Ba cha giảng bằng tiếng Việt Nam làm lễ bằng tiếng Việt Nam cho giáo dân người Việt Nam. Cho nên cũng do sự gần gũi và cũng ấm cúng trong lòng với người Việt Nam như xưa."
 
Thanh Trúc:
Nhắc về ngày 30 tháng tư năm 1975 ở Việt nam, kỷ niệm nào làm cho cha nhớ nhất?
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Tự vì cha đã ở trong chế độ mới với các "bác" những năm bảy tháng, nên cha cũng đủ biết những sự giả dối của họ. Có kỷ niệm là khi đó họ đưa dân lên khai thác ở trên núi và cha đã đi với họ.
 
Thế rồi buổi tối khi làm việc xong thì cha đã làm lễ ở ngoài trời và đã giảng về sự sống. Cha đã chơi chữ, nói đến ái quốc đến nước đến sự sống của con người bắt đầu ở trong nước ra. Cha đã phủ nhận giá trị của lý thuyết Marx Lenine. Hôm sau họ mời cha xuống núi, về giáo xứ Đà Nẵng, không cho ở với giáo dân nữa."
 
Thanh Trúc:
Đó là kỷ niệm mà cha nhớ nhất.
 
LM Dương Tấn Bằng:
"Cha đã nói khi nào cha có thể mặc áo linh mục về Việt Nam thì cha sẽ về Việt Nam. Còn nếu họ bắt cha vận thường phục thì cha không về. Tại vì cha đã bị trục xuất với tư cách là linh mục thì cha sẽ về thăm với tư cách là linh mục. Thế thôi. Cha vẫn yêu nước Việt Nam."
 
Thanh Trúc:
Thưa linh mục Dương Tấn Bằng, xin cảm ơn tất cả những lời chia sẻ của linh mục.
 
Thanh Trúc